Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Bài 9: Khải huyền 2:1-7: "Khi Ngọn Lửa Biến Thành Đóm Than Hồng"




Khải huyền 2:1-7
KHI NGỌN LỬA
BIẾN THÀNH ĐÓM THAN HỒNG
Phần giới thiệu: Bắt đầu với mấy câu nầy, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu 7 Hội Thánh mà Chúa Jêsus đang viết gửi cho. Ngài gọi đích danh các Hội Thánh nầy ở Khải huyền 1:11. Chúa Jêsus có một lời cho mỗi một Hội Thánh ấy. Khi chúng ta nghiên cứu 7 Hội Thánh nầy, tôi muốn bạn in trí các Hội Thánh nầy có thể được xem xét trong 3 phương diện khác nhau:
1. Có thể xem xét họ về phương diện tiên tri – Các Hội Thánh nầy dường như tiêu biểu cho những chặng đường khác nhau của Hội Thánh trải qua 2.000 năm. Nếu điều nầy là thật, thì Hội Thánh tại Êphêsô tiêu biểu cho khoảng thời gian giữa Ngày Lễ Ngũ Tuần và năm 100SC. Đây là thời kỳ bành trướng rất mạnh của Hội Thánh đầu tiên. Nhưng, đây cũng là thời kỳ có người khởi sự nới lỏng sự sốt sắng và nhiệt thành của họ.
2. Có thể xem xét họ về mặt thực tế – Những thư tín nầy được gửi đến các Hội Thánh cụ thể, có thật, họ đang hoạt động ở phần cuối Thế Kỷ Đầu Tiên. Trong khi chúng được viết ra cho các Hội Thánh có thật đang hiện hữu vào thời buổi ấy, chúng vẫn nói với từng Hội Thánh hôm nay. Đức Chúa Trời có một lời cho Hội Thánh chúng ta ở đây trong mấy câu nầy!
3. Có thể xem xét họ theo cách riêng – Các bức thư nầy nói với nhiều hội chúng, nhưng chúng ta cũng nên nhớ rằng Chúa có một lời cho từng cá nhân trong các thư tín nầy nữa đấy. Ngài có điều gì đó phán với bạn và với tôi về mối quan hệ của chúng ta với Ngài.
            Ao ước của tôi là lấy ra phần ứng dụng thực tế của các thư tín nầy rồi tìm cách áp dụng chúng cho Hội Thánh của chúng ta. Tôi tin Chúa có điều chi đó đặc biệt để phán với Hội Thánh chúng ta từ mỗi một bức thư nầy.
            Thư tín đầu tiên đến trước được gửi cho Hội Thánh ở trong thành Êphêsô. Để hiểu rõ một số việc được phán cho Hội Thánh, chúng ta cần phải xem xét thành phố nầy. Cho phép tôi chia sẻ một số sự thực về thành cổ Êphêsô. Êphêsô rất quan trọng trong thời buổi ấy vì một số lý do:
1. Đây là thành phố quan trọng về mặt thương mại – Êphêsô nằm trên dòng sông Castor, cách vài dặm đối với Biển Aegean. Thành nầy nổi tiếng vì hải cảng to lớn, nhiều tàu bè đã đến với Êphêsô từ khắp nơi trên thế giới, đem nhiều hàng hóa và sự giàu có của họ đến đây. Đây là thành phố giàu có nhất trong Tiểu Á vào thời của nó.
2. Đây là một thành phố quan trọng về mặt chính trị – Vì cớ sự phục vụ trong quá khứ với Đế quốc Rome, thành Êphêsô được đặc quyền là một “thành phố tự do”. Nói như thế có nghĩa là họ có nhà cầm quyền riêng. Nghĩa là họ có thể đưa ra bất cứ quyết định nào họ muốn đưa ra. Cũng có nghĩa là các quân đoàn Lamã không được đóng trại ở đó. Điều nầy cho phép thành phố phát triển mạnh.
3. Đây là một thành phố quan trọng về mặt tôn giáo – Thành Êphêsô là quê hương của đền thờ Diana, hay Artemis. Trong thời ấy, đây là một trong 7 kỳ quan của thế giới. Người ta đến từ khắp mọi nơi để dự phần trong đền thờ đó. Giờ đây, Diana là nữ thần của tình dục và sự trúng mùa. Nữ thần nầy được tiêu biểu bởi một bức tượng gớm ghiếc chỉ ra một người phụ nữ mang trên mình nhiều bộ ngực. Đền thờ nầy đầy dẫy với hàng trăm gái điếm phục vụ đền thờ và cách thức bạn thờ lạy Diana là phải có những quan hệ tình dục với gái điếm trong đền thờ. Đền thờ cũng góp phần như một ngân hàng nữa. Người ta sẽ đem của cải của họ đến đó để được giữ gìn an toàn. Đền thờ cũng góp phần như một viện bảo tàng nghệ thuật. Tranh ảnh từ khắp nơi trên thế giới đã được chất chứa trong đền thờ cổ nầy. Đền thờ cũng góp phần như một nơi nương thân cho hạng tội phạm. Nếu một kẻ phá luật có thể vào trong đền thờ, hắn sẽ được an toàn tránh sự bắt bớ.
            Thật là dễ nhìn thấy thành phố Êphêsô là một nơi gian ác, suy đồi, độc địa để sinh sống. Một triết gia Hylạp có tên là Heraclitus đã nói: “Không ai có thể sống tại Êphêsô mà không bật khóc vì sự vô luân mà người nhìn thấy ở bất cứ chỗ nào”.
            Chính tại thành phố gian ác nầy mà Đức Chúa Trời đã phái Sứ đồ Phaolô đến, Công Vụ các Sứ Đồ 18:19-21; 19; 20:17-38. Ông đã đến giảng đạo ở đây trong 2 năm trời và đã sáng lập Hội Thánh nầy. Trong khi Phaolô có mặt ở đây, ông đã viết hai thư tín I và II Côrinhtô. Timôthê là giám mục đầu tiên của Hội Thánh nầy, I Timôthê1:3. Aquila, Bêrítsin và Abôlô hết thảy đều phục vụ ở Hội Thánh Êphêsô, Công Vụ các Sứ Đồ 18. Sứ đồ Giăng cũng qua năm cuối cùng của cuộc đời ông ở thành Êphêsô. Chính ở đây ông đã viết sách Tin Lành Giăng và ba thư tín của ông.  Theo truyền khẩu, Mary mẹ của Chúa Jêsus đã được chôn cất trong thành Êphêsô. Hội Thánh nầy được đặc ân nghe và biết điều tốt nhứt của những gì tốt nhứt trong những ngày đầu sớm sủa đó.
            Đây là một Hội Thánh năng động, phục vụ trong thì xấu xa. Nhưng, Đức Chúa Trời đã sử dụng họ và nhiều linh hồn đã được cứu. Đồng thời, chính những phương pháp được sử dụng ở thành Êphêsô vẫn còn có hiệu quả hôm nay, Công Vụ các Sứ Đồ 20:17-21. Chúng ta sẽ không với tới cộng đồng của mình bằng cách ngồi yên và không làm gì hết. Chúng ta vẫn với tới các nơi khác bằng cách đi ra lo chia sẻ Tin Lành với họ!
            Ba mươi năm đã trôi qua và Chúa đến với Hội Thánh nầy để nói cho họ biết họ đang ở đâu và Ngài muốn họ phải ở chỗ nào!?! Ngài đến với họ với một sứ điệp đầy yên ủi. Họ được nhắc nhớ ở câu 1 rằng Ngài nắm họ trong tay Ngài. Từ ngữ “cầm” nói tới việc “nắm lấy quyền tể trị tuyệt đối”. Trong một xã hội xáo trộn, họ cần phải biết rằng Ngài đang nắm lấy quyền tể trị. Chúng ta cần chính sứ điệp ấy hôm nay. Ngài nhắc cho họ nhớ rằng Ngài từng ở với họ, quan phòng họ và bảo hộ họ khi họ tìm cách hầu việc Ngài.
            Khi chúng ta nghiên cứu 7 thư tín nầy, tôi muốn bạn lưu ý rằng Chúa có việc gì đó riêng tư muốn nói với mỗi một Hội Thánh nầy. Ngài đến với Hội Thánh nầy nói về sự hiện diện của Ngài giữa vòng họ.  Đây là một Hội Thánh cần phải công nhận sự hiện diện của Chúa giữa vòng họ.
            Chúa Jêsus đưa ra bốn lưu ý về Hội Thánh nầy mà tôi muốn chia sẻ với bạn hôm nay. Tôi muốn lấy phân đoạn Kinh Thánh nầy rồi rao giảng với tư tưởng: Khi Ngọn Lửa Biến Thành Đóm Than Hồng. Tôi tin Chúa Jêsus có một lời cho tấm lòng chúng ta hôm nay.
I. CHÚA JÊSUS XEM XÉT TIẾNG TĂM CỦA HỌ (các câu 2-3, 6)
(Minh họa: Chúa Jêsus bắt đầu phần nhận xét của Ngài đối với Hội Thánh nầy bằng cách nói về mọi sự đúng đắn với hội chúng nầy. Họ đã có nhiều điều tốt và Chúa khiến cho họ biết rằng Ngài đã nhìn thấy hết mọi sự tốt đẹp mà họ đã làm ra trong danh của Ngài. Ngài đến với họ bằng những lời khen ngợi quí báu)
A. Ngài khen ngợi sự phục vụ của họ (câu 2a) – Chúa Jêsus sử dụng ba từ mô tả sinh hoạt của Hội Thánh nầy:
1. Công việc – Từ ngữ nầy nói tới “những điều đã hoàn tất rồi”. Nó đề cập tới sự thực Hội Thánh nầy đã làm nhiều việc vì sự vinh hiển của Chúa. Họ đang hoạt động và Chúa Jêsus đã nhìn thấy hết mọi sự.
2. Sự khó nhọc – Từ ngữ nầy sát nghĩa có ý nói “một sự đánh đập”. Nó nói tới “công việc nặng nề chồng chất với cực nhọc và rối rắm”. Nó cho rằng Hội Thánh nầy đang hầu việc Chúa một cách rất nhiệt thành. Họ đang bào mòn mấy ngón tay họ đến tận xương. Nói cách khác, đây chỉ là đám đông không có ngày Chúa nhựt nào hết. Họ đang phục vụ Chúa rất năng động với tổn phí và sự hy sinh cá nhân rất lớn.
3. Nhịn nhục – Từ ngữ nầy nói tới việc “bền đỗ nhẫn nhịn”. Nó cho chúng ta biết Hội Thánh nầy đang sinh hoạt bất chấp sự chống đối. Dân chúng trong thành Êphêsô không ưa thích hạng người nầy hay lòng sốt sắng của họ dành cho Chúa và họ đã chống đối cách công khai và ở bề ngoài; nhưng số người nầy đã chịu đựng sự chống đối, sự bắt bớ và họ cứ tiếp tục hầu việc Chúa cách trung tín bất chấp mọi sự đang ném thẳng vào họ.
(Minh họa: Nếu bạn đến với Hội Thánh nầy vào một ngày Chúa nhựt, bạn sẽ nghe nói về một tuần đầy dẫy với sinh hoạt và nhiều cơ hội để thờ phượng. Số người nầy biết rõ một việc quan trọng mà Hội Thánh hiện đại đã bỏ quên: 
+ Họ biết rõ Hội Thánh sẽ không tự dựng mình lên. 
+ Họ cũng biết rõ Hội Thánh không thể tự đứng vững.  
+ Họ biết rõ Hội Thánh rất cần hạng người biết chịu đựng! 
+ Họ cũng biết rõ Hội Thánh phải lao vào những việc như thế nầy! 
            Chúng ta có thể biến chỗ nầy thành một câu lạc bộ mà ở đó người được chọn đã nguội lạnh tự khen ngợi họ vì họ đã được cứu. Hoặc, chúng ta có thể biến nhà thờ nầy thành một nơi mà các thánh đồ bước vào để được trang bị cho sự phục vụ; và rồi họ đi ra khỏi chỗ nầy để sống cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời tại gia đình, tại trường học, tại cộng đồng và tại nơi làm việc của họ. Đức Chúa Trời không cứu chúng ta để nhảy lên chiếc giường an nhàn đầy hoa hồng đâu.  Ngài cứu chúng ta để chúng ta sống năng động trong công việc của Ngài cho tới chừng Ngài kêu gọi chúng ta đến với sự vinh hiển của Ngài, Êphêsô 2:10; Giacơ 2:18; II Côrinhtô 9:8; Côlôse 1:10.
            Nếu Chúa Jêsus xuất hiện trên giảng đường nầy hôm nay, liệu Ngài có khen ngợi chúng ta về những công việc, sự khó nhọc và sự nhịn nhục của chúng ta không?) 
B. Ngài khen ngợi sự biệt riêng của họ (câu 2b) – “không thể dung được những kẻ ác” – Số người nầy đang sống một lối sống biệt riêng. Tình trạng vô luân và gian ác xác định thế giới thời ấy không phải là một phần trong đời sống của họ. Họ đã chọn thế đứng ở phía đạo đức và họ đã sống khác biệt với thế giới ở chung quanh họ.
(Minh họa: Đức Chúa Trời vẫn mong đợi điều nầy từ hết thảy con cái Ngài. Ngài đòi hỏi chúng ta phải sống biệt riêng đối với đời ác nầy, II Côrinhtô 6:17; Êphêsô 5:1-8. Trong sự chúng ta ăn ở, nói năng, ăn mặc, chọn lựa bộ môn giải trí, và trong từng lãnh vực của cuộc sống, chúng ta được truyền cho phải sống khác với thế giới bị mất ở xung quanh chúng ta. Đấy là cách duy nhứt chúng ta có thể để cho ánh sáng của Đấng Christ chiếu rọi vào, Mathiơ 5:16. Nếu Chúa Jêsus cần phải phán với Hội Thánh nầy và với chính tấm lòng của chúng ta hôm nay, liệu Ngài có khen ngợi chúng ta vì đã sống nhưng một dân biệt riêng không?)
C. Ngài khen ngợi các tiêu chuẩn của họ (các câu 2c, 6) – Số người nầy được khen ngợi vì họ mau mắn làm theo lẽ đạo. Khi người ta đi ngang qua thị trấn của họ để trở thành người của Đức Chúa Trời, họ đang tự đặt mình vào thử nghiệm. Họ kiểm tra lại mọi khả năng của mình và họ xem xét sự giảng dạy của họ. Nếu mọi điều họ đã nói không song hành với Lời của Đức Chúa Trời, người ta từ chối không nghe theo họ, hay giao thông với họ, nhưng người ta chỉ ra họ là hạng giả dối như hiện có.
         Họ cũng được khen ngợi vì với thế đứng của họ chống lại đảng “Nicôla”. Không ai biết chắc số người nầy là ai, nhưng có một hai khả năng.  Từ ngữ đến từ hai chữ Hylạp; “Nikao” – “chinh phục” và “Laos” –  “Người”. 
            Vì thế, đảng Nicôla có thể là một nhóm các cấp lãnh đạo Hội Thánh, họ muốn thiết lập hệ thống cấp bậc trong Hội Thánh. Nói cách khác, có những người muốn điều khiển chương trình và giữ dân sự dưới quyền của họ. Đám đông ấy vẫn còn có ở đây với chúng ta hôm nay! Trong một số hệ phái, có một sự phân biệt giữa “hàng giáo phẩm” và “hàng thế tục”.
            Khả năng khác nữa, ấy là đảng Nicôlai là những môn đồ của một tín hữu có tên là Nicolas, ông nầy nổ lực lãnh đạo dân sự tẻ tách khỏi Chúa rời bước vào tình trạng phi luận. Ông ta đã giảng một lẽ đạo để cho dân sự phục vụ Chúa mà vẫn nhắm vào loại đời sống vô đạo đức.
            Dù là phương thế nào, những gì là “việc làm” ở câu 6 đã biến thành “đạo” ở câu 15. Đây là lối đảo lộn trình tự mà Kinh Thánh đề ra rất rõ ràng. Chúng ta học giáo lý và giáo lý kiểm soát việc làm của chúng ta. Xác thịt thích làm những việc nó đẹp lòng và rồi phát minh ra giáo lý thích ứng với nó.
            Các tín hữu thành Êphêsô đã từ chối không để cho giáo lý giả tồn tại trong sự tương giao của họ. Họ đã làm gì về việc nầy? Họ đặt từng sự dạy kèm theo một bên với Lời của Đức Chúa Trời. Nếu nó không song hành với Kinh Thánh, họ từ chối không chấp nhận sự dạy đó! 
(Minh họa: Chúng ta cần có thái độ ấy hôm nay! Không phải mọi điều xuất phát từ tòa giảng đều ra từ Chúa cả đâu! Có một phụ nữ trong Hội Thánh nầy đến nói cho tôi biết tối Chúa nhựt qua bà đã nghe tôi giảng về điều nầy, rồi khi trở về nhà kiểm tra lại, tôi nói “Ngợi khen Chúa!”  Đấy đúng là điều đáng phải có!
            Buồn thay, quá nhiều người trong Hội Thánh tìn theo mọi sự họ đã nghe. Họ vẫn nghe theo các nhà truyền đạo trên TV đến nỗi họ không chịu nổi trong Hội Thánh của họ nữa. Họ khen ngợi những người thậm chí không thể trình bày lưu loát Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ nữa, nhưng những người ấy đã  đánh vào cái tôi của họ và trưởng dưỡng xác thịt họ. Nếu ai đó làm cho họ cảm thấy tốt đẹp, họ không quan tâm những gì người tin. Quí bạn ơi, bạn đang tuột xuống cái dốc rắc rối nếu đấy là cách bạn tiếp cận với sự giảng dạy và các nhà truyền đạo. Chúng ta phải sống giống như những tín hữu thành Bêrê, họ đặt mọi sự họ nghe vào thử nghiệm acid. Đây là những gì Kinh Thánh chép về họ: “Những người nầy có ý hẳn hoi hơn người Tê-sa-lô-ni-ca, đều sẵn lòng chịu lấy đạo, ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng” (Công Vụ các Sứ Đồ 17:11). Chúa Jêsus sẽ chẳng nói gì về ý kiến của chúng ta, mà Ngài nói về những tiên chuẩn giáo lý của chúng ta?)
            (Minh họa: Việc thiếu mất các tiêu chuẩn trong lễ tang dành cho Coretta Scott King.)
D. Ngài khen ngợi sự bền đỗ của họ (câu 3) – Đây là một Hội Thánh đang mang lấy gánh nặng, chịu đựng nhiều khốn khó và sự chống đối, khó nhọc đến mức kiệt lực và họ đã chịu thế mà chẳng thấy có một dấu hiệu yếu đuối nào. Họ là một hội chúng rất bền đỗ. Và, những gì họ đã làm, họ đã làm vì cớ Chúa. Họ là một Hội Thánh đáng để được khen ngợi.
(Minh họa: Về mặt ngoài, Hội Thánh tại thành Êphêsô là điều mà từng Hội Thánh nên phấn đấu phải trở thành. Chúng ta rất bận rộn cho Chúa. Chúng ta nên làm tươi mới mạng lịnh ở I Côrinhtô 15:58: “Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu”. Có phải câu Kinh Thánh ấy mô tả Hội Thánh của chúng ta không? Có phải câu ấy mô tả đời sống của bạn? Chúa Jêsus có khen ngợi chúng ta về sự bền đỗ của chúng ta không?)
I. Chúa Jêsus xem xét tiếng tăm của họ
II. CHÚA JÊSUS PHƠI BÀY THỰC TẠI (câu 4)
(Minh họa: Sau khi hiến cho Hội Thánh nầy một số lời khen ngợi, Chúa Jêsus giờ đây cung ứng cho họ một số lời than phiền).
A. Nổi thất vọng của Ngài – Trong khi họ trông rất tốt ở mặt ngoài, có nhiều vấn đề ở trong lòng cần phải xử lý với. Chúa Jêsus làm cho họ biết đây là một vấn đề tư riêng. Dường như là Ngài rất đau lòng bởi những vấn đề mà Ngài nhìn thấy trong Hội Thánh nầy.
(Minh họa: Chúng ta phải hiểu rằng Chúa Jêsus nhìn thấy mọi việc chúng ta đang làm, nhưng Ngài cũng nhìn thấy chúng ta đang làm gì nữa đấy. Ngài có khả năng nhìn bên dưới bề mặt đời sống của chúng ta và nhìn thấy tình trạng tấm lòng của chúng ta. Khi Ngài tìm thấy sai lầm và tội lỗi trong tấm lòng chúng ta, điều đó làm buồn lòng Ngài và nó ngăn trở khả năng thưởng thức mối tương giao và ơn phước của Ngài. Khi chúng ta để cho loại sai trái của những vụ việc bám chặt lấy tấm lòng chúng ta, điều đó làm buồn lòng Ngài, Êphêsô 4:30).
B. Cách chẫn trị của Ngài – Chúa Jêsus đã nhìn vào những người nầy, Ngài yêu thương họ, Ngài đã chịu chết cho họ và nói cho họ biết rằng họ chỉ không yêu mến Ngài như họ thường yêu mến. Ngài nói cho họ biết họ “đã bỏ lòng kính mến ban đầu”. Họ vẫn có tình cảm đấy, nhưng tình yêu sâu sắc, nhiệt thành, nóng cháy đầy dẫy họ với thứ tình cảm hầu việc Ngài đã lìa khỏi lòng họ rồi. Họ yêu mến Hội Thánh của họ; nhưng họ không kính mến Ngài như họ thường kính mến nữa. Họ yêu mến giáo lý của họ; nhưng họ đã đánh mất tình cảm dành cho Chúa Jêsus. Họ yêu mến công việc của họ; nhưng họ không bị tác động bởi công việc đó bởi tình yêu kính mến dành cho Chúa Jêsus nữa. Họ rất bận rộn, nhưng tấm lòng của họ không còn nóng cháy cho Ngài nữa. Ngọn lửa đã bị đốt thật nóng và sáng láng khi nó bốc cháy lần đầu tiên giờ đây chẳng là gì cả trừ ra là một đóm than hồng âm ỉ. Họ đã đánh mất tình cảm của họ dành cho Con của Đức Chúa Trời! Họ đã “bỏ lòng kính mến ban đầu”.
            Bạn thấy đấy, đời sống Cơ đốc cơ bản là một vấn đề tình cảm với Đức Chúa Jêsus Christ. Được cứu là đem lòng yêu đương với Ngài. Lớn lên trong sự cứu rỗi là rơi vào tình yêu sâu đậm hơn với Ngài. Tình yêu nầy là động lực cho mọi sự chúng ta làm trong danh của Ngài. Dù chúng ta ca hát, dạy dỗ, rao giảng, làm chứng, bố thí, v.v…, mọi sự ấy phải tuôn tràn ra từ một tình yêu ngày càng sâu đậm hơn dành cho Chúa Jêsus. Nếu chúng ta đánh mất tình yêu dành cho Ngài, sự hầu việc của chúng ta chẳng còn có ý nghĩa gì nữa hết, I Côrinhtô 13:1-3.
            Tình yêu phải được thấy luôn lớn lên! Tôi muốn nói, tôi yêu vợ tôi nhiều hơn hôm nay tôi từng yêu. Tôi yêu con cái của mình nhiều hơn hôm nay tôi từng yêu khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy chúng. Tôi yêu anh em, quí tín hữu, nhiều hơn khi mỗi ngày trôi qua.  Tình yêu cần phải lớn lên. Nhưng, tôi lấy làm lạ không biết Chúa Jêsus sẽ phải nói với chúng ta: “Ngươi không yêu ta giống như ngươi thường yêu đấy”? Điều đó sẽ làm tan vỡ tấm lòng người bạn đời của chúng ta khi nói thế với chúng ta. Liệu bạn có phải bối rối không nếu chúng ta biết Chúa cảm nhận theo cách ấy?
(Minh họa: “Tình yêu ban đầu” nầy là như thế nào vậy? Điều chi làm cho nó ra đặc biệt thế? Tình yêu ban đầu là tình yêu nhiệt thành! Tình yêu ấy thuộc về cảm xúc. Nó tác động tấm lòng. Nó khiến cho linh hồn phải rung động: Nó không lạnh lẽo, chết chóc, khô khan. Nó sống động và sôi nổi. Hãy nhớ đến lúc bạn lần đầu tiên yêu đương với người bạn đời của mình xem? Tình yêu của bạn rất nhiệt thành và đầy cảm xúc. Nó khiến cho bạn viết ra những lá thư mùi mẫn và thốt ra những việc mà bạn không bao giờ nói nếu tình yêu chỉ xoay vần ngắn ngủi trong đầu óc mình. Bây giờ, bạn có thể nhớ lúc mình được cứu lần đầu tiên không? Bạn có thể nhớ mình đã đem lòng yêu đương với Chúa Jêsus, Nhà của Ngài, dân sự của Ngài, và Lời của Ngài không? Bạn có thể nhớ thể nào bạn đã cầu nguyện, thờ lạy và làm chứng không?  Có nhớ đến cảm xúc khi bạn nghĩ đến những gì Ngài đã làm cho bạn không? Đấy là tình yêu ban đầu, nhiệt thành lắm!
            Tình yêu ấy quá cao vời.  Tình yêu sẽ khiến bạn tiêu xài cho những thứ mà bạn không thể có đủ khả năng. Bạn đã từng như thế chưa? Mua sắm thứ gì cho người đặc biệt nào đó mà bạn không đủ khả năng, song bạn biết rõ họ sẽ thích? (Minh họa: Mary và hộp thạch cao đựng dầu). Tình yêu chơn thật không bao giờ tính toán! Tình yêu chơn thật sẽ ban bố bất cứ thứ gì vào bất cứ thời điểm nào cho đối tượng của tình yêu đó. Bạn có thể nhớ lúc nào Chúa Jêsus cầm quyền tuyệt đối trên tấm lòng bạn và bạn không dám bảo Ngài đừng không? Đấy là tình yêu nhiệt thành ban đầu!
            Có phải điều nầy mô tả tình yêu của bạn dành cho Ngài không? Có phải bạn hầu việc Ngài vì bạn yêu thương Ngài, hay có phải bạn làm việc ấy từ một ý thức bổn phận? Có thể chịu khó nhọc mà chẳng có tình yêu thương; nhưng thật khó yêu thương mà không chịu khó nhọc. Bạn có thể làm việc mà không ở trong tình cảm với Chúa. (Minh họa: Người anh cả – Luca 15:25-32). Nhưng, bạn không thể nói tôi yêu với Chúa mà lại thụ động được. (Minh họa: Giacốp và sự ông phục vụ vì Rachên – Sáng thế ký 29).
            Hội Thánh Êphêsô rất năng động trong công việc của Chúa, nhưng họ phục vụ từ một ý thức bổn phận chớ không phải từ tình yêu nhiệt thành dành cho Ngài. Họ đã trở nên giống như Mathê, Luca 10:38-42.  Nàng chịu khó làm việc, nhưng không xuất phát từ tình yêu thương.
(Minh họa: Còn chúng ta thì sao? Có một số người đang hầu việc vì đấy là những gì người ta mong đợi từ nơi họ và không phải vì họ yêu mến Chúa đâu, có phải không? Tình yêu dành cho Chúa Jêsus phải có ở tận đáy mọi sự chúng ta đang lo làm. Dù chúng ta dạy dỗ, rao giảng, ca hát trong ca đoàn, làm vệ sinh nhà thờ, phục vụ trong vai trò chấp sự, v.v…, chúng ta phải làm việc xuất phát từ tình yêu dành cho Chúa!
            Chúng ta không luôn nói chúng ta yêu tội nhân giống như chúng ta đáng phải có. Có người không đáng yêu. Nhưng nếu chúng ta yêu mến Ngài như chúng ta đáng phải có, chúng ta sẽ có thể làm chứng cho họ dù là cách thế nào. Chúng ta sẽ không luôn yêu kẻ mà chúng ta buộc phải yêu vì Ngài, nhưng nếu chúng ta yêu Ngài, chúng ta sẽ vui sướng chấp nhận sự kêu gọi vì sự vinh hiển của Ngài.
            Bạn có thành thật nói rằng tấm lòng bạn vẫn đầy dẫy với tình yêu ban đầu ấy, nhiệt thành, đầy cảm xúc, cao tột dành cho Chúa Jêsus không? Hay, có phải bạn đã bỏ đi tình yêu ban đầu đó? Bây giờ, hãy thôi đứng nhìn vào ai khác và những gì họ đang làm hay không làm. Bạn cần phải đọc chính bức thư của mình hôm nay rồi để cho Chúa phán với tấm lòng của bạn).
I. Chúa Jêsus xem xét tiếng tăm của họ
II.  Chúa Jêsus phơi bày thực tại của họ
III. CHÚA JÊSUS GIẢI THÍCH PHƯƠNG CỨU CHỮA (câu 5)
(Minh họa: Chúa Jêsus không đến để làm cho họ bị tổn thương; Ngài đã đến để cứu giúp họ! Ngài hiến một lời khen ngợi, một lời than phiền, giờ đây Ngài thốt ra một lời chỉnh sửa. Ngài nói cho họ biết họ phải sửa chữa điều chi là sai trái trong Hội Thánh của họ).
A. Ngài nói về việc “nhớ” – Chúa Jêsus kêu gọi số người nầy hãy nhìn lại. Ngài muốn họ nhớ lại giây phút họ đạt tới chỗ nhìn biết Ngài. Ngài muốn họ suy gẫm lại những gì Ngài đã làm cho họ. Ngài muốn họ nhớ lại mọi sự phấn khích và cảm xúc của những ngày đầu ấy với Ngài. Ngài muốn họ quay nhìn lại thời điểm khi lòng kính mến của họ dành cho Ngài đã tác động mọi sự họ đã làm. 
            Một số người trong chúng ta cần phải nhớ lại. Chúng ta đã được cứu lâu đến nỗi chúng ta đánh mất sự rung động của những ngày đầu “lưu luyến” ấy. Bạn có thể nhớ cảm xúc ấy như thế nào khi lần đầu tiên bạn đến với Chúa Jêsus và gánh nặng tội lỗi của bạn đã được cất ra khỏi tấm lòng mình? Bạn có thể nhớ lại lúc chỉ nhắc tới danh của Ngài cũng đủ đem lại cho bạn đôi mắt đẩm lệ? Bạn có thể nhớ lại khi tấm lòng bạn thật dịu dàng và tại bàn thờ trò chuyện với Ngài bạn cảm thấy như đang ở nhà, bạn có nhớ không?  Hãy dành ra một phút suy gẫm lại việc ấy là thể nào đi!  Giờ đây, hãy xem nó là thế nào rồi! Bạn có thể thành thật nói rằng bạn vẫn hướng cả đầu tới chơn mình vào tình yêu thương với Chúa Jêsus hôm nay không?
            Khi một thánh đồ của Đức Chúa Trời rời khỏi tình yêu với Chúa Jêsus, họ đang ở trong tình trạng “tái phạm”. Họ cần một sự phục hưng. Bước thứ nhứt trong sự phấn hưng là nhớ lại.
B. Ngài phán về sự ăn năn – Từ ngữ “ăn năn” nói tới “một sự thay đổi ý chí dẫn tới một sự thay đổi hành động”. Chúa Jêsus đang nói cho dân sự nầy biết rằng họ cần phải ăn năn tội lỗi không kính mến Ngài như đáng phải có. Họ cần phải dò xét tấm lòng và thay đổi thái độ của họ đối với Chúa.
(Minh họa: Cũng chính mưu luận đó cần phải được ấp ủ bởi Hội Thánh hiện đại hôm nay. Chúng ta đã để cho mọi sự trong thế gian đến trước mặt Chúa. Gia đình, thú vui, công việc, thậm chí công việc Hội Thánh hết thảy đã chiếm lấy chỗ của Ngài trong tấm lòng chúng ta. Chúng ta cần phải trở lại với bàn thờ, tái xưng nhận tình yêu ban đầu cao tột, nhiệt thành ấy rồi hướng cả lòng vào tình yêu với Chúa Jêsus thêm một lần nữa.  Đã bao lâu rồi, kể từ khi bạn xưng nhận mình thiếu tình yêu nồng cháy dành cho Ngài? Đã bao lâu rồi, kể từ khi bạn cởi mở và không xấu hổ trong những sự tỏ bày tình yêu dành cho Thầy? Chúng ta cần phải ăn năn về tình trạng nguội lạnh của mình rồi ngã vào tình yêu với Chúa Jêsus thật tươi mới).
C. Ngài phán về sự làm lại – Ngài bảo họ phải “làm lại những công việc ban đầu của mình”. Họ được truyền cho phải khởi sự làm những việc mà họ thường hay làm một lần nữa. Đấy là chìa khóa cho sự phấn hưng của họ và đấy cũng là chìa khóa dành cho chúng ta nữa.
(Minh họa: Chúng ta cần phải trở lại với những công việc ban đầu; trở lại với việc đọc Kinh Thánh; trở lại với sự cầu nguyện; trở lại với việc chứng đạo; trở lại với sự làm chứng; trở lại với việc khóc lóc; trở lại với việc ngợi khen danh Ngài; chúng ta cần phải trở lại với những vụ việc đánh dấu chúng ta khi sâu sắc trong tình cảm với Chúa Jêsus. Hãy đến trước mặt Ngài hôm nay rồi cầu xin Ngài tỏ ra cho bạn phương thức quay trở lại).
D. Ngài phán về việc cất bỏ – Nếu họ từ chối trở lại nơi mà họ cần phải trở lại, Chúa Jêsus nói cho họ biết rằng Ngài sẽ bằng lòng cất bỏ chơn đèn của họ. Đấy đúng là những gì Ngài đã làm tại thành Êphêsô! Họ không ấp ủ sứ điệp và Ngài cất bỏ sự sáng của họ.  Giờ đây, không có một công tác Cơ đốc quan trọng nào nữa tại thành phố ấy. Chẳng có gì ở đó trừ ra những đống đổ nát.
(Minh họa: Có một ngọn đèn trong phòng khách của chúng ta đang cần thay bóng mới. Khi bóng được thay, tôi sẽ ném bóng cũ kia vào thùng rác. Tại sao? Sự vô dụng làm phát sinh ra tai vạ! Một ngọn đèn không chiếu sáng chẳng còn có giá trị gì nữa hết. Khi một nhà thờ thôi không chiếu sáng tình cảm dành cho Chúa Jêsus; khi họ thôi không là một ngọn đèn sáng cho Chúa, Ngài sẽ nắm lấy quyền phép, cái chạm của Ngài và Ngài sẽ đặt nó ở chỗ người ta sẽ tôn cao Ngài và kính mến Ngài.
            Tôi không muốn Đức Chúa Trời cất bỏ những gì chúng ta đang có đây. Tôi không muốn Hội Thánh nầy trở nên giống với nhiều nhà thờ khác trong thế giới của chúng ta hôm nay. Nhưng, nếu chúng ta lìa khỏi tình yêu với Ngài và cứ tiếp tục trong tình trạng đó, ngày sẽ đến khi Ngài cất lấy những gì chúng ta đang có rồi Ngài sẽ ban nó cho những người nào biết sử dụng nó cho sự vinh hiển của Ngài. Hãy đánh dấu đi! Một là Nhớ lại, Ăn năn và Làm lại, hay bị Cất bỏ!)
I. Chúa Jêsus xem xét tiếng tăm của họ
II.  Chúa Jêsus phơi bày thực tại của họ
III. Chúa Jêsus giải thích phương cứu chữa
IV. CHÚA JÊSUS TRÌNH BÀY CHI TIẾT PHẦN THƯỞNG (câu 7)
(Minh họa: Chúng ta đã nghe lời khen ngợi, than phiền và chỉnh sửa của Chúa. Trong câu sau cùng nầy, Ngài kết thúc với lời yên ủi. Có hy vọng đấy).
A. Phần thưởng đang sẵn có – Chúa Jêsus phán với “kẻ nào thắng”. Từ ngữ nầy có ý nói “đoạt được chiến thắng”. Dường như muốn nói rằng có ai đó trong Hội Thánh Êphêsô sẽ nghe theo sứ điệp và ấp ủ sứ điệp ấy. Hạng người nầy sẽ tìm kiếm mặt Chúa, đem lòng kính mến Ngài trở lại và được phục hồi tới chỗ mật thiết và tương giao. Phần thưởng nầy đang sẵn có cho hết thảy những ai chịu tìm kiếm nó.
B. Phần thưởng đáng kinh ngạc – Kẻ nào thắng sẽ có thể kinh nghiệm một việc mà các tín hữu khác sẽ thiếu mất. Họ sẽ được ăn trái của cây sự sống. Khi Ađam phạm tội trong vườn Êđen, ông bị trục xuất ra khỏi vườn để ngăn không cho ông ăn trái của cây nầy, Sáng thế ký 3:22-24. Người nào sống đời sống nầy từ đầu đến chơn ở trong tình yêu với Chúa Jêsus sẽ được nếm trái của cây đó. Họ, cùng với các tín hữu khác, đều có sự sống đời đời rồi. Đây là ân ban đặc biệt cho những ai kính mến Ngài. Chúa Jêsus dường như muốn nói rằng những ai kính mến Ngài nhất giờ đây sẽ tận hưởng Thiên Đàng nhiều nhất khi ấy. Tôi muốn có mọi sự ấy ở đây và về sau. Còn bạn thì sao?
Phần kết luận: Tôi muốn bạn phải thành thật với lòng mình và với Chúa của bạn chỉ trong một phút thôi. Có phải bạn đã bỏ đi tình yêu ban đầu ấy? Có phải bạn bận rộn, bận rộn do bổn phận và không bận rộn vì tình yêu thương? Bạn có thể thành thật nói rằng bạn đang dầy dẫy với tình yêu nhiệt thành, đầy cảm xúc và cao tột dành cho Chúa Jêsus không? Hay, có phải bạn muốn nói rằng tấm lòng bạn đã trở nguội lạnh; lòng sốt sắng của bạn không còn y như trước nữa; bạn cần phải nhớ lại, ăn năn, làm lại những công việc ban đầu? Nếu Ngài đã chạm đến lòng bạn, bạn cần phải xử lý với Ngài. Thời điểm là bây giờ và địa điểm là ở đây.


Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

Bài 8: Khải huyền 1:12-18: "CHÚA VINH HIỂN TRONG CHỨC VỤ CỦA NGÀI"



Khải huyền 1:12-18
CHÚA VINH HIỂN TRONG CHỨC VỤ CỦA NGÀI
Phần giới thiệu
: Trong lần nhóm lại vừa qua, chúng ta đã xem xét sứ điệp của các câu 12-17a. Trong những câu ấy, Đức Chúa Jêsus Christ được phác họa ra trong mọi sự vinh hiển của Ngài. Ở các câu 12-16, Giăng mô tả Chúa vinh hiển trong vẻ oai nghi của Ngài. Giăng nổ lực mô tả Chúa Jêsus phục sinh, đã được làm cho vinh hiển. Khi ông mô tả, ông phác họa cho chúng ta thấy Chúa Jêsus mà chúng ta sẽ nhìn thấy khi chúng ta về đến quê hương ở trên trời. Tôi không biết về bạn, nhưng tôi đã nhìn thấy trước cái ngày khi tôi gặp Ngài như Ngài vốn có thật vậy, vì tôi sẽ ra giống như Ngài trong ngày ấy, 1 Giăng 3:1-2.
Tiếp đến, ở câu 17a, Giăng chỉ cho chúng ta thấy Chúa vinh hiển trong ơn thương xót của Ngài. Giăng nhìn thấy Chúa Jêsus và ngã xuống đất như chết. Chúa Jêsus, trong ân điển và sự thương xót, vực tôi tớ Ngài dậy rồi phán bình an cho tấm lòng của Giăng. Đúng là một Cứu Chúa mà chúng ta đang có! Tôi ngợi khen danh Ngài vì những thời điểm Ngài với xuống cùng tôi rồi nhấc tôi lên trong tấm lòng của tôi! Quí bạn ơi, chúng ta sẽ ở đâu nếu Chúa không hiện diện trong tấm lòng của chúng ta để “thì thào sự bình an ngọt ngào” ấy với linh hồn chúng ta?
Trong tiểu đoạn sau cùng nầy, Giăng mô tả Chúa vinh hiển trong chức vụ của Ngài. Sau khi đã nói cho chúng ta biết về cách thức Chúa Jêsus xuất hiện và cách thức Ngài khích lệ các thánh đồ của Ngài; mấy câu nầy cho chúng ta biết Chúa Jêsus là ai và Chúa Jêsus đang làm gì!
I. NGÀI LÀ ĐẤNG ĐANG TỂ TRỊA. “ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng” – Giăng được nhắc nhớ rằng Chúa Jêsus là “Đấng Tác Giả và Thành Toàn” của muôn vật. Ngài là Đấng đã có và là Đấng luôn hằng hữu. Ngài hiện diện ở đó trước khi sáng thế và Ngài sẽ hiện diện ở đó sau khi tận thế. Chúa Jêsus đứng như cột trụ của cả hai đầu lịch sử. Các vì vua đã đến và họ sẽ ra đi, nhưng Chúa Jêsus đã, đang và sẽ trị vì cho đến đời đời. Ngài là vô hạn và Ngài là đời đời!
B. Cái điều chúng ta hiện có ở đây chẳng có gì khác hơn một lời Chúa Jêsus xưng nhận rõ ràng về thần tính. Tước hiệu: “Trước hết và Sau cùng” được thấy trong Cựu Ước ba lần: Êsai 41:4; 44:6; 48:12. Đây là tước hiệu đề cập tới Giêhôva Đức Chúa Trời. Tước hiệu nầy được Chúa Jêsus sử dụng ba lần trong sách Khải huyền: 1:17; 2:8; 22:13. Ngài đang nói cho chúng ta là dân sự Ngài biết rằng Ngài đồng đẳng với Đức Chúa Cha. Ngài đang nhắc cho chúng ta nhớ rằng Ngài là Đức Chúa Trời và Ngài đang nắm quyền tể trị!
(Minh họa: Tôi rấy vui sướng chắc chắn rằng Ngài có quyền cao chức trọng!)(Minh họa: Trong thời trước đây của xe hơi, chiếc Ford kiểu Model-T của một người bị nằm ụ ở giữa đường. Ông ta không thể khởi động máy được, bất luận ông ta sử dụng tay quay rất khó nhọc ngần nào, ông ta cũng không thử đánh lửa hay điều chỉnh các bộ phận dưới capô. Ngay khi ấy một chiếc limousine có tài xế lái đậu ở phía sau ông ta, và một người rắn chắc, năng nổ bước ra khỏi ghế sau rồi hiến cho ông ta sự giúp đỡ. Sau khi loay quay mấy phút người kia nói: "Giờ thử đề máy xem!" Ngay lập tức máy nổ ngay. Người ăn mặc bảnh bao đó khi ấy tự nhận mình là Henry Ford, ông ta nói: "Tôi đã thiết kế và lắp ráp loại xe nầy, vì vậy tôi biết phải làm gì khi có chi đó sai trật". Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa đang ở với chúng ta để "chỉnh" điều chi bị hỏng trong đời sống của chúng ta, Hêbơrơ 13:5).C. Dân sự của Chúa không phải sợ bất cứ điều gì phát sinh trong cả sự sống hay sự chết, vì Chúa Jêsus đứng ở cả hai đầu và Ngài cũng đang tể trị ở giữa nữa! Chúa Jêsus là trọng tâm quanh nó chiếc bánh xe thời gian đang xoay vần. Ngài hiện hữu trước muôn vật, trên muôn vật, dưới muôn vật, quanh muôn vật, và đàng sau muôn vật. Ngài là mọi sự trong mọi sự! Ngài là nguồn cội và là toàn bộ của muôn vật! Ngài đang nắm quyền tể trị trong cuộc sống và không một điều gì xảy ra mà không có sự chấp thuận của Ngài, Rôma 8:28.
II. NGÀI LÀ ĐẤNG CỨU CHUỘCA. “là Đấng Sống, ta đã chết” – Chúa Jêsus đã chết, nhưng sự chết của Ngài không giống với cái chết nào khác trong lịch sử của thế gian. Ngài đã chết, không phải cho chính mình Ngài, nhưng Ngài đã chịu chết vì tha nhân. Ngài bước lên thập tự giá để trả một giá mà Ngài không mắc; vì một dân họ nợ một giá mà họ không thể trả được. Ngài phó hết mọi sự của Ngài cho những kẻ chẳng có gì để dâng. Ngài đã trả toàn bộ cái giá để chuộc dân sự Ngài ra khỏi tội lỗi của họ, Êsai 53:4-6; I Phierơ 1:18-19; Khải huyền 1:5. Ngài đã tự đặt mình vào giữa chúng ta và tội lỗi của chúng ta!
(Minh họa: Đức Chúa Trời phán: Chúng ta hãy làm nên con người theo hình chúng ta. Thế gian nói: Chúng ta phải làm cho con người thích nghi với hình ảnh của chúng ta. Ma quỉ nói: Ta sẽ làm cho con người phải méo mó bởi tội lỗi. Giáo dục nói: Chúng ta hãy làm cho con người thấm nhuần bởi tri thức. Xã hội nói: Chúng ta sẽ cải tạo con người bằng văn hóa. Chỉ có Đấng Christ phán: Ta sẽ biến đổi con người bằng tình yêu cao sâu của ta và bởi cái chết của ta trên thập tự giá).B. Ngài đã hoàn thành qua một sự cung hiến mà hàng triệu gallons huyết con sinh không thể làm được, cũng không bao giờ có thể làm được. Ngài đã trả trọn cái giá cứu chuộc cho hết thảy những ai biết bởi đức tin mà kêu cầu Ngài, Hêbơrơ 10:10-14; Hêbơrơ 9:12; 25-28.
(Minh họa: Trong nhiều năm trời ở khu chợ tại Rotterdam, Hà lan, có một ngôi nhà sừng sững ở đó ai cũng biết là "ngôi nhà của hàng ngàn điều khiếp sợ". Vào thế kỷ thứ 16, Vua Philip II cứ Tây ban Nha cai trị xứ Hà lan. Trong cuộc chiến với Hà lan, ông đã hành hình, làm cho bị thương tích, bỏ tù, và lưu đày cả ngàn người. Khi dân chúng dấy lên chống đối, ông đã gửi một đạo quân người Tây ban Nha dưới quyền của Công Tước xứ Alva để đánh dẹp cuộc nổi loạn.
Thành Rotterdam đã dũng cảm cầm cự trong một thời gian, rồi sau cùng họ thất thủ trước đạo quân Tây ban Nha. Những kẻ chiến thắng đã lục soát từng nhà một, tìm kiếm từng người một, rồi giết chết họ tại nhà của họ. Ở một ngôi nhà kia, một nhóm nhiều người nam, người nữ và trẻ em đã hội ý với nhau, cả ngàn điều khiếp sợ nắm chặt lấy tấm lòng của họ khi mấy tên lính Tây ban Nha đến gần.
Thình lình, thanh niên kia có một ý rất hay. Bắt lấy một dê con của người chủ nhà, anh ta giết nó, rồi bôi huyết nó dưới ngạch cửa của ngôi nhà. Khi ấy họ nín thở chờ tiếng bước chân đến gần. Lúc đó mấy tên lính Tây ban Nha đến ngay cánh cửa. Rồi họ nghe một tên lính nói: "Hãy xem máu đang chảy dưới cửa kìa. Anh em ơi, thôi đi đi, công việc ở đây đã được làm rồi!"
Một lát sau toán lính đã rút đi, cả tốp người trong ngôi nhà dâng lời cảm tạ, họ bước ra, an toàn và vui vẻ. Họ đã sống vì một dê con đã chịu giết).
C. Halêlugia! Chính huyết của chiên con đã khiến cho thiên sứ sự chết vượt qua con cái Israel mà vào xứ Aicập, Xuất Êdíptô ký 12. Chính huyết của bò đực, dê đực, bồ câu, đã chuộc tội của Israel trong hàng mấy trăm năm. Nhưng, chính huyết của Chúa Jêsus, và chỉ có huyết của Chúa Jêsus, mới tẩy sạch những vết uế tội lỗi và khiến cho con người trở thành một con người mới! Chính huyết của Chúa Jêsus mới có thể cứu một tội nhân hư mất và khiến người trở thành một thánh đồ của Đức Chúa Trời! Chỉ có huyết Chiên Con mới có thể làm được sự ấy mà thôi, I Phierơ 1:18-19!
(Minh họa: Cách đây nhiều năm ở Detroit, Michigan, nhà truyền đạo nổi tiếng, Mục sư Charles Finney, đã rao giảng với đề tài "Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, làm sạch mọi tội chúng ta" (I Giăng 1:7). Sau buổi thờ phượng, một người kia đến mời Mục sư Finney đi về nhà với ông ta. Được khuyên đừng đi theo hắn bởi các viên chức trong nhà thờ, vì họ biết rõ hắn, Mục sư Finney không cứ cách nào đó đã đi theo hắn.
Sau khi dẫn nhà truyền đạo vào phía sau tòa nhà, người kia khóa cửa lại, đút chìa khóa vào túi, rồi nói: “Đừng sợ. Tôi sẽ không làm hại ông đâu. Tôi chỉ muốn hỏi một vài câu. Ông có tin những điều ông đã giảng tối nay chứ?”
Mục sư Finney đáp: "Tôi tin chắc như thế".
Người kia nói tiếp: "Chúng ta đang ở phía sau một quán rượu. Tôi là chủ ở đây. Có nhiều bà mẹ đến đây, đặt con trẻ họ lên quầy, rồi nài xin tôi đừng bán rượu cho chồng của họ. Tôi xây cái lỗ tai điếc trước sự kêu nài của họ. Chúng tôi thấy khi người ta rời khỏi đây với tình trạng say khướt. Thế rồi một tối kia, có người rời khỏi đây đã bị xe đụng chết. Mục sư Finney, hãy nói cho tôi biết, Đức Chúa Trời có thể tha thứ co một người như tôi không?"
Mục sư Finney đáp: "Tôi có thẩm quyền duy nhứt, Lời Đức Chúa Trời có phán: 'Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, làm sạch mọi tội chúng ta'".
Người kia nói thêm: "Nhưng như thế vẫn chưa đủ đâu. Trong một phòng khác, chúng tôi tổ chức đánh bạc. Nếu một người không xài tiền mình vào rượu, chúng tôi đưa người ấy tới đây và với những lá bài có đánh dấu, người ấy sẽ thua đến đồng đôla cuối cùng, chúng tôi để cho người ấy về với gia đình đói khát chẳng còn một xu dính túi. Mục sư Finney, tôi là chủ quán đây. Hãy thành thật nói cho tôi biết Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho một người với tấm lòng giống như thế không?"
Một lần nữa, Mục sư Finney đáp: "Tôi chỉ có một thẩm quyền duy nhứt, Lời của Đức Chúa Trời chép: 'Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, làm sạch mọi tội chúng ta'".
Người kia lại nói nữa: "Như thế vẫn chưa đủ đâu. Bên kia đường là nhà của tôi, ở đó vợ tôi và đứa con gái nhỏ sinh sống. Trong năm năm trời nay bà ấy chẳng nói với tôi một lời tử tế. Thân thể mang lấy những con dấu vũ lực tàn bạo của tôi. Mục sư Finney, ông có nghĩ Đức Chúa Trời có thể tha thứ cho một người với tấm lòng như thế không?"
Cái đầu của Mục sư Finney hạ thấp xuống. Đôi mắt ông đẫm nước mắt khi ông nói: "Ông ơi, ông đã vẽ ra một trong những bức tranh tối tăm nhất mà tôi đã từng liếc qua, nhưng tôi vẫn có một thẩm quyền, thẩm quyền ấy nói: 'Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ làm sạch mọi tội chúng ta'".
Người kia bèn mở cửa ra, dẫn nhà truyền đạo đi trong bóng đêm, và không rời khỏi căn phòng ấy cho tới rạng sáng. Ông ta không ra khỏi đó cho tới chừng nào ông ta đập nát mấy cái bàn đánh bạc, đổ hết mấy cái thùng bia đi và mấy tủ rượu. Sau khi ông ta làm xong, ông ta khoá quán lại rồi băng qua đường, bước vào nhà của mình rồi ngồi xuống trong phòng khách.
Đứa con gái nhỏ của ông ta gọi: “Bố ơi, mẹ nói bữa điểm tâm sẵn sàng rồi". Khi ông trả lời tử tế với đứa con gái, nó bèn chạy lại với mẹ nó: "Bố nói chuyện tử tế với con! Có chuyện gì vậy mẹ!" Người mẹ theo đứa con gái nhỏ đó ra phòng khách. Người kia ra hiệu cho cả hai. Ôm chầm lấy mỗi người mỗi bên đầu gối, ông giải thích trước sự kinh ngạc của họ rằng họ vừa có một người chồng mới và người cha mới: "Bố đã thôi không làm công việc bên kia đường nữa!" Người ấy sau đó đã trở thành một thuộc viên, rồi là một chức sắc trong Hội Thánh Detroit. Khi được yêu cầu nói cho biết làm thể nào đời sống ông đã thay đổi như vậy, ông sẽ đáp: "Huyết của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, làm sạch mọi tội chúng ta".
D. Dân sự của Chúa không cần phải sợ hãi tội lỗi, Satan hay án phạt gán cho tội lỗi, vì Chúa Jêsus đã đánh bại quyền lực của tội lỗi; vua chúa của sự tối tăm và Ngài hủy bỏ án phạt giáng trên tội lỗi. Chúa Jêsus đã bước vào sự chết với ý muốn tự do của chính Ngài. Ngài đã bước vào sự chết, và trong giây phút yếu đuối nhất của Ngài, Ngài đã thắng hơn mọi kẻ thù của linh hồn cho đến đời đời!
III. NGÀI LÀ ĐẤNG PHỤC SINHA. là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời – Một lần nữa, Chúa Jêsus sử dụng một tước hiệu thiêng liêng để mô tả chính mình Ngài. Ngài phán: “Ta là Đấng Sống”. Tước hiệu nầy đã được dùng bởi người Do thái thời xưa để phân biệt Đức Giêhôva với các tà thần. Họ là gỗ, đá và kim loại chết; Đức Giêhôva là Đấng tự hữu đời đời!
B. Chúa Jêsus đã làm một việc mà chẳng có ai khác làm được: Ngài đã bước vào sự chết theo thời khắc của chính Ngài, theo phương thức của chính Ngài, sau khi đã hoàn tất từng việc Ngài đã đến với trần gian nầy để làm và rồi Ngài bước ra khỏi sự chết khi Ngài đã sẵn sàng, Giăng 10:17-18.
Ngài đã chịu chết trên thập tự giá và rồi Ngài đã sống lại từ kẻ chết, Mathiơ 28:1-6. Cảm tạ Đức Chúa Trời: “Ngài sống! Ngài sống! Chúa Jêsus sống hiện rày! Đi chung trò chuyện suốt lối hẹp hòi. Tâm tôi vui mừng thơ thái. Ngài sống! Ngài sống!Để ban ơn cứu ta đấy. Nếu hỏi chứng cớ Chúa sống đâu nào? Rằng Chúa sống trong lòng nầy!”
C. Bạn có muốn biết phép lạ lớn lao nhất trong câu chuyện cứu chuộc là phép lạ nào không? Phép lạ lớn lao nhất không phải là Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết đâu. Rốt lại, “Đấng Sống” khó mà bị giữ trong một ngôi mộ lắm. Phép lạ lớn lao nhứt, ấy là Đức Chúa Trời đã bước vào nhân thế; sống giữa vòng loài người; chịu thương khó của thập tự giá và “đã vì mọi người nếm sự chết”, Hêbơrơ 2:9. Phép lạ lớn lao nhứt trong câu chuyện cứu chuộc là Đức Chúa Trời ở trong loài xác thịt “làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người”, II Côrinhtô 5:19. Phép lạ lớn lao nhứt, ấy là Đức Chúa Trời “đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự”, Philíp 2:8.
D. Dân sự của Chúa không cần phải sợ sự chết, vì Chúa Jêsus đã chinh phục sự chết cho họ.IV. NGÀI LÀ ĐẤNG KHÔNG HỀ THAY ĐỔIA. Kìa, nay ta sống đời đời – Chúa Jêsus công bố chính mình Ngài là Đấng sẽ không bao giờ nếm sự chết nữa! Ngài sống và Ngài sẽ sống cho đến đời đời!
(Minh họa: Các thành ẩn náu – Người nào trốn đến thành ẩn náu để được bảo hộ, người ấy được phép ở lại trong thành ấy cho tới khi Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm qua đời, Dân số ký 35:25. Người tuyệt đối được an toàn và được bảo hộ; sự sống của người được kể với sự sống của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm. Quí bạn ơi, người nào đã trốn đến với Chúa Jêsus để ẩn náu hưởng lấy sự an ninh và bảo hộ bao lâu Chúa Jêsus, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta còn sống, Hêbơrơ 7:25. Một khi Ngài không bao giờ chết nữa, chúng ta được tuyệt đối an ninh cho đến đời đời, Giăng 10:28-29; 6:37-40!)B. Khi từng bậc chủ quyền và từng kẻ bị trị nhạt nhòa dần đi qua cái khung thời đại; khi từng người giàu có và mỗi người nghèo khó bị xóa đi khỏi ký ức của thời gian; khi từng đế quốc và từng việc làm phai dần đi bởi dòng lịch sử; Đức Chúa Jêsus Christ vẫn sẽ là Chúa Tể và Ngài vẫn sẽ là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng y như nguyên cũ! Đừng lo về việc gì sẽ xảy ra cho Ngài! Khi bụi thời gian bị quét vào cái thùng rác của cõi đời đời, Chúa Jêsus vẫn sẽ là Vua các vua và Chúa các chúa! Điều đó đã đem lại sự yên ủi cho từng con cái của Đức Chúa Trời và giáng sự kinh khiếp vào lòng của từng ma quỉ và tội nhân.
C. Dân sự của Đức Chúa Trời không cần phải sợ hãi cuộc sống, vì Chúa Jêsus đang sống; Ngài ở với họ và Ngài sẽ chăm sóc họ.V. NGÀI LÀ ĐẤNG PHÓNG THÍCHA. Ta cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ – Chìa khóa nói tới lối vào và quyền hành. Tôi có nhiều chìa khóa ngay ở đây. Vì tôi có chúng, tôi có lối vào với những vật kia. Vì tôi có mấy chiếc chìa khóa, tôi có thể vào những nơi mà người khác không được phép vào. Cũng thực sự một thể ấy với Chúa Jêsus!
B. Đức Chúa Jêsus Christ quyết định mọi vấn đề của sự sống và sự chết. Ngài quyết định ai sống và ai chết. Vì Chúa Jêsus đã bước vào sự chết và đã thắng hơn nó, Ngài có những chìa khóa của sự chết. Vì Ngài đã bước vào chỗ mà người chết đang ở và đã bước ra khỏi đó, Ngài đang cầm lấy chìa khóa của địa ngục. Chúa Jêsus là nhân vật chính! Ngài là một người nhơn đức để người ta phải nhìn biết! Chữ “âm phủ” trong câu nầy là từ Hylạp “hades”. Từ ấy không đề cập đến chỗ của hình phạt, mà đề cập đến miền của sự chết. Bạn thấy đấy, chết là tình trạng và âm phủ là nơi chốn và Chúa Jêsus nắm lấy chìa khóa của cả hai nơi!
Đức Chúa Jêsus Christ đang sở hữu những chiếc chìa khóa cho từng mồ mả, mộ địa và nơi chôn cất trong thế gian. Ngài biết rõ từng thi thể, từng khúc xương, từng tro bụi đang nằm ở đâu trên đất nầy.
Một ngày kia, Chúa Jêsus sẽ mở toang mọi mồ mả ra. Dân sự của Ngài sẽ sống lại và hiệp với Ngài trong sự vinh hiển Ngài, Giăng 5:28-29; I Têsalônica 4:13-18. Hãy ngợi khen Chúa, chúng ta không phải lo lắng về những người thân của chúng ta, họ đã chết ở trong Ngài!
Tuy nhiên, người nào đã qua đời trong tội lỗi của họ cũng sẽ bước ra khỏi mồ mả của họ một ngày kia; nhưng họ sẽ đối diện với Chúa Jêsus trong sự phán xét, Khải huyền 20:11-15; Giăng 5:29b.
Quí bạn ơi, phải trả giá để nhìn biết Đức Chúa Jêsus Christ! Ngài là Nhân Vật Chính! Vì tôi nhìn biết Ngài, tôi không thể đi địa ngục, Ngài đã khóa cánh cửa ấy rồi! Vì tôi nhìn biết Ngài, tôi sẽ vào thiên đàng; Ngài đã mở toang hai cánh cổng của thành ấy cho con cái của Ngài.
C. Có phải bạn biết rõ Ngài đang cầm lấy những chiếc chìa khóa và từng mồ mả trong thế gian không? Ngài có quyền làm cho những người thân của bạn sống lại từ kẻ chết, I Têsalônica 4:13-18. Có phải bạn nhìn biết rằng Ngài đã mở cánh cửa giữa sự sống và sự chết cho hết thảy dân sự Ngài không? Khi tôi đi đến mức cuối của sự sống, tôi sẽ có quyền bước ra khỏi sự sống đời nầy mà bước vào trong sự sống thiên thượng đó vì Ngài đã mở cánh cửa ra rồi, II Côrinhtô 5:1-8.
D. Dân sự của Chúa không cần phải sợ hãi cõi đời đời, vì Chúa Jêsus nắm giữ chìa khóa của sự chết và âm phủ. Ngài đang nắm quyền tể trị mọi vụ việc của sự sống và sự chết.
Phần kết luận: Khi Chúa Jêsus hiện ra với Giăng trên đảo Bátmô, Giăng bị phủ lút bởi sự hiện diện và dáng dấp của Chúa và ông ngã ra như chết. Trong ân điển và sự thương xót của Ngài, Chúa đã đặt tay trên Giăng mà phán “Đừng sợ”. Cụm từ nầy nằm trong một thì có nghĩa là: “Thôi, đừng sợ hãi và đừng bao giờ sợ hãi nữa!”
Nếu bạn nhìn biết Chúa Jêsus, bạn không phải e sợ sự sống, sự chết, tội lỗi, Satan, hay cõi đời đời. Nếu bạn nhìn biết Chúa Jêsus, bạn đang nhìn biết “Chúa Bình An”. Và Chúa Bình An có quyền đùa đi hết mọi lo sợ.
Có thể bạn đang có một số lo sợ mà bạn muốn Ngài ban cho sự yên nghỉ hôm nay. Bạn có thể đem chúng đến với Ngài và bạn có thể tìm được sự cứu giúp mà bạn đang có cần, Mathiơ 11:28; I Phierơ 5:7. Có thể bạn đang xử lý với nỗi lo sợ lớn lao nhứt trong mọi lo sợ. Có thể bạn lấy làm lạ không biết có điều gì xảy ra cho bạn khi bạn qua đời. Chúa Jêsus có thể ban cho bạn sự bình an trong lãnh vực ấy hôm nay. Có thể đời sống của bạn đầy dẫy với nhiều thắc mắc hơn những câu trả lời. Nếu có một nhu cần về sự bình an dù là ở cấp độ nào, Chúa Jêsus có thể ban sự bình an ấy cho bạn ngay hôm nay. Ngài có thể bắt lấy những sợ hãi của bạn rồi biến đổi chúng thành không sợ hãi nữa.

Bài 7: Khải huyền 1:12-18, 20: "CHÚA VINH HIỂN"


Khải huyền 1:12-18, 20
CHÚA VINH HIỂN
Phần giới thiệu
: Vừa qua, chúng ta đã thấy bạn chúng ta là Giăng, ông đã được “Đức Thánh Linh cảm hóa, nhằm ngày của Chúa”, câu 10. Khi ông thờ phượng, Giăng nghe đàng sau có tiếng kêu vang, như tiếng loa. Tiếng nầy bắt lấy sự chú ý của ông và ông xây lại nhìn thấy nguồn của tiếng vang nầy.
Khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy hai điều. Thứ nhứt, ông nhìn thấy bảy chân đèn vàng, câu 12. Kế đó, ông nhìn thấy một người mà ông mô tả giống như “Con Người”, câu 13. Cụm từ nầy xuất hiện trong Cựu Ước, và ở Đaniên 7:13-14, cụm từ nầy được sử dụng để nói tới Đấng Mêsi hầu đến. Tước hiệu nầy cũng là tước hiệu mà Chúa Jêsus rất ưa thích khi Ngài phán về chính mình Ngài trong Tân Ước. Chúa Jêsus đã sử dụng cụm từ nầy 81 lần trong các sách Tin Lành. Khi Êtiên bị ném đá, ông ngước mắt nhìn lên trời và ông đã nom thấy Chúa Jêsus, là Đấng ông nói tới là “Con Người”, Công Vụ các Sứ Đồ 7:56.
Vì vậy, khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy Đức Chúa Jêsus Christ. Bây giờ, đây là lần đầu tiên Giăng đã nhìn thấy Chúa trải qua hơn 60 năm. Và, chắc ông không nhìn thấy một điều chi khác hơn ông thường nhìn thấy! Giăng vốn biết Chúa Jêsus rất rõ. Kinh Thánh dường như chỉ ra ở Mác 15:40-41 và Giăng 19:25 rằng mẹ của Giăng và mẹ của Chúa Jêsus là hai chị em ruột. Nếu đấy là sự thật, thế thì họ là anh em bà con. Vì lẽ đó, có lẽ Giăng biết rõ Chúa Jêsus khi còn nhỏ. Ông biết rõ Chúa Jêsus là một giáo sư, một người hay làm phép lạ, một tôi tớ, và một người chinh phục linh hồn. Ông đã quan sát khi Chúa Jêsus đang phục vụ và ông đã quan sát khi Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá. Giăng đã nhìn thấy ngôi mộ trống và ông đã nhìn thấy Đấng Christ phục sinh. Giăng có mặt ở đó khi Chúa Jêsus thăng thiên về trời. Và, thậm chí Giăng đã tựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly. Giăng vốn biết Chúa Jêsus rất rõ. Lời làm chứng của ông có thể được thấy ở I Giăng 1:1.
Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, Giăng nhìn thấy Chúa Jêsus giống như ông chưa hề nhìn thấy Ngài trước đó. Trong mấy câu nầy, Giăng nhìn thấy Chúa của sự vinh hiển. Ông nhìn thấy Đấng Christ đã được vinh hiển, and Giăng cố gắng thực hiện một điều rất khó; ông ra sức mô tả Chúa của sự vinh hiển cho chúng ta biết. Tôi muốn hiệp với Giăng khi trong sự lạ lùng ông nhìn xem Chúa Của Sự Vinh Hiển. Tôi muốn chúng ta nên đọc về Đấng mà chúng ta sẽ tự mình nhìn thấy ở cuối con đường sự sống. Chúng ta hãy chú ý những phương thức mà Giăng đang mô tả Chúa Của Sự Vinh Hiển cho chúng ta hôm nay.
I. CHÚA VINH HIỂN TRONG VẺ OAI NGHI CỦA NGÀI (các câu 12-16)A. Ngài oai nghi trong hoạt động của Ngài (các câu 12-13a) – Khi Giăng xây lại, ông nhìn thấy bảy chân đèn bằng vàng. Mấy chân đèn nầy, hay cây đèn có 7 ngọn, đã có mặt ở chỗ những ngọn đèn dầu được đặt để thắp sáng phòng ốc. Người Do thái gọi chúng là “menorah”. Ngọn đèn menorah có 7 nhánh và được sử dụng trong Đền tạm, Xuất Êdíptô ký 25:31. Cây đèn có 7 ngọn được làm bằng vàng, là thứ kim loại quí báu nhất, và được châm đầy dầu rồi được gắn bấc vào để thắp lên cung ứng ánh sáng. Đèn 7 ngọn tượng trưng cho Đức Thánh Linh và khả năng của Ngài chiếu ánh sáng vào trong thế gian. Đèn 7 ngọn là kiểu mẫu nói tới Đấng Christ. Chúa Jêsus đã đến trong thế gian nầy như một người, nhưng là một người được đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và Ngài đã phục vụ như Sự Sáng của thế gian, Giăng 8:12.
Ở đây, chúng ta thấy Chúa Jêsus đang “ở giữa những chân đèn”. Đèn 7 ngọn trong phân đoạn Kinh Thánh nầy được xác định cho chúng ta ở câu 20. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng chúng tiêu biểu cho 7 Hội Thánh được nhắc tới ở Khải huyền 1:11.
Đèn 7 ngọn đều bằng vàng, tiêu biểu cho bản chất quí báu của Hội Thánh. Chẳng có một thể chế nào trên đất là quí báu và xinh đẹp như Hội Thánh được! Hội Thánh rất quí báu đối với Đức Chúa Trời đến nỗi Chúa Jêsus đã bằng lòng mua lấy nó bằng chính huyết của Ngài!
Có 7 chân đèn. Một lần nữa, 7 là con số của sự trọn vẹn hay hoàn toàn. Bảy chân đèn nầy chỉ về các Hội Thánh thật, nhưng chúng cũng tiêu biểu cho các Hội Thánh địa phương trải qua các thời đại.
Tuy nhiên, sứ điệp thật nói tới các chân đèn nằm trong mục đích của chúng. Đèn 7 ngọn phác họa Hội Thánh giống như “sự sáng của thế gian”, Philíp 2:15; Êphêsô 5:8; Mathiơ 5:16.
Vì thế, điều đó đưa tôi đến với những gì tôi muốn nói về câu Kinh Thánh nầy. Chúa Jêsus được phác họa là đang ở giữa các Hội Thánh của Ngài. Khi chúng ta nhóm lại, Ngài luôn ở đây với chúng ta, Mathiơ 18:20. Ngài hiện đang ở đây vùa giúp chúng ta; đang phán dạy chúng ta; đang bảo hộ chúng ta; đang dẫn dắt chúng ta; đang chúc phước cho chúng ta; đang khích lệ chúng ta và đang thách thức chúng ta. Ngài ở giữa dân sự Ngài khi chúng ta sinh sống, thờ phượng và đang hướng tới sự vinh hiển. Có những lúc chúng ta có thể công nhận sự hiện diện của Ngài và có những lúc chúng ta quên Ngài đang hiện diện ở đây. Ngài vẫn ở với chúng ta y như thế. Nếu chúng ta từng quên đi nhóm; lịch phục vụ; những mối quan tâm của chúng ta; và hãy công nhận sự hiện diện của Chúa trong Hội Thánh của Ngài, điều đó sẽ làm biến đổi những buổi lễ thờ phượng của chúng ta.
Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài yêu thương chúng ta và mong muốn gặp gỡ chúng ta! Bạn và tôi có thể không có mặt tại nơi thờ phượng, nhưng Chúa Jêsus không hề bỏ sót một buổi thờ phượng nào cả!
B. Ngài oai nghi trong dáng dấp của Ngài (các câu 13b-16) – Đây là chỗ mà Giăng bắt đầu nổ lực thực hiện điều rất khó ấy. Ông cố gắng mô tả Chúa của Sự Vinh Hiển bằng những từ ngữ mà chúng ta có thể hiểu được.
1. Áo của Ngài (câu 13b) – Chúa Jêsus “mặc áo dài, thắt đai vàng ngang trên ngực”. Đây là y phục của cả hai: Vua và Thầy Tế Lễ. Là Vua, Chúa Jêsus là Chủ Tể Tối Cao. Ngài đang cầm quyền tuyệt đối và Ngài đang tể trị hôm nay, thậm chí dù thế gian không công nhận Ngài, Khải huyền 17:14. Chúa Jêsus đang tể trị trên các Hội Thánh của Ngài và trên thế gian.
Là Thầy Tế Lễ, Chúa Jêsus là “nhân vật nơi người bề trong” của chúng ta. Ngài là Đấng Cầu Thay của chúng ta; Ngài là Đấng cầu thay cho chúng ta ở trên trời hết ngày nầy sang ngày khác, Hêbơrơ 7:25; Rôma 8:34; I Timôthê 2:5; I Giăng 2:1. Khi chúng ta trông thấy Ngài, chúng ta sẽ nhìn thấy Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm và Vua của chúng ta.
2. Đầu và Tóc của Ngài (câu 14a) – Điều nầy nói tới sự thanh sạch và tình trạng thái cổ của Ngài. Chúng ta được nhắc cho nhớ rằng Ngài là vô tội, Hêbơrơ 7:26; II Côrinhtô5:21; I Phierơ 2:22. Chúng ta cũng được nhắc cho nhớ rằng Ngài không có tuổi tác! Cái thấy nầy về Chúa Jêsus đồng hóa Ngài với “Đấng Thượng Cổ” ở Đaniên 7:9. Ngài là Đấng luôn luôn hằng hữu! Con Trẻ Jêsus đã được đặt trong máng cỏ ở thành Bếtlêhem cũng chính là Đấng đã đứng ở chỗ không không và đã dựng nên muôn vật từ lúc sáng thế! Ngài là vô hạn và đời đời!
Giăng đang nói cái đầu của Ngài. Cái đầu ấy đã được đặt nơi ngực của Mary để được yên ủi như một đứa con. Cái đầu ấy khi là một người trưởng thành không có một chỗ nào để nghỉ ngơi. Cái đầu ấy bị đội cho chiếc mão đan bằng gai và huyết của chính Ngài bị pha trộn với nước bọt của kẻ thù Ngài. Cái đầu ấy đã được đặt trong một mộ địa bằng đá tăm tối và được quấn với vải lịm. Ngày kia, một ngày vinh hiển, cái đầu ấy sẽ được tôn tặng với thật nhiều mão triều thiên!
3. Đôi mắt của Ngài (câu 14b) – Chúng nói tới sự toàn tri của Ngài; sự thông thái và sáng suốt của Ngài, Hêbơrơ 4:13; Châm ngôn 15:3. Không một điều gì có thể giấu kín khỏi mắt Ngài! Xachê trèo lên cây, Phierơ bên ngọn lửa, tấm lòng của người Pharisi ngạo mạn kia cũng không giấu được Ngài! Không, Ngài nhìn thấy từng động lực, tội lỗi và kín nhiệm trong tấm lòng và trong đời sống của chúng ta. Đôi mắt ấy từng nhòa lệ dành cho Laxarơ, cho thành Jerusalem và cho chúng ta. Đôi mắt ấy vẫn nhìn thấy mọi sự trong đời sống chúng ta hôm nay!
4. Hai bàn chân của Ngài (câu 15a) – Đồng, trong Kinh Thánh nói tới sự phán xét. “Con rắn bằng đồng”, Dân số ký 21, là biểu tượng tội lỗi của dân sự bị xét đoán bởi sự sửa phạt của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus xuất hiện ở đây giữa các Hội Thánh Ngài là Đấng đang cầm quyền phán xét. Ngài nhìn thấy mọi sự và khi Ngài nhìn thấy điều chi không đẹp lòng Ngài, Ngài thực thi quyền bính của mình trong vai trò là Vua và là Chúa, Ngài hành động trong sự phán xét để sửa ngay lại mọi việc.
Hai bàn chân quí báu của Chúa Jêsus đã chạm đến đất nầy lần đầu tiên khi Ngài chỉ là một đứa trẻ. Chúng đã đưa Ngài dọc theo những con đường bụi bặm trong xứ Israel khi Ngài phục vụ và giảng dạy cho dân chúng. Chúng đưa Ngài lên đỉnh đồi Gôgôtha, ở đó hai bàn chân ấy đã cảm nhận nổi đau của những mũi đinh đóng xuyên qua chúng. Hai bàn chân ấy đã được trông thấy lần sau cùng khi Ngài trở lại với ngôi của Cha Ngài. Trong 2.000 năm qua hai bàn chân ấy chẳng cảm nhận được gì trừ ra những con đường bằng vàng của thành ấy. Không bao lâu nữa, hai bàn chân ấy sẽ cỡi những đám mây trở lại với thế gian nầy khi Chúa Jêsus kêu gọi cô dâu của Ngài đến với chính mình Ngài. Thế thì một ngày kia, hai bàn chân ấy một lần nữa sẽ chạm đến thế gian nầy. Ngài sẽ đến trong năng quyền để phán xét tội lỗi, Satan và con người tội lỗi khi Ngài giày đạp thùng rượu thạnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Ngài đến trong vai trò một Quan Xét!
5. Tiếng của Ngài (câu 15b) – Khi Giăng lần đầu tiên nghe thấy Chúa, tiếng của Ngài được mô tả vang dội giống như tiếng loa, câu 10. Tiếng của Ngài đã đến đòi hỏi sự chú ý của Giăng. Còn bây giờ, Giăng mô tả tiếng của Chúa giống như “tiếng nước lớn”. Tôi chưa hề đến Thác Niagara, nhưng người nào đó thuật cho tôi biết tiếng của những dòng nước tuôn xuống rất khác biệt. 12 triệu m3 nước chảy trong một phút đổ xuống cái thác lớn ấy và giống như dòng nước đó đập mạnh vào những vầng đá bên dưới, nó tạo ra tiếng vang duy nhứt mà người ta nghe thấy được, và chỉ có tiếng ấy mới thực sự là vấn đề.
Tiếng vang ấy được kể giống với tiếng của Chúa Jêsus. Ngày nay, có nhiều người đang xây cái lỗ tai điếc đối với tiếng phán của Ngài; nhưng có một ngày hầu đến khi Ngài sẽ phán và tiếng của Ngài sẽ là một tiếng chẳng ai có thể bỏ qua được. Ngày kia, từng đầu gối sẽ phủ phục xuống và mọi lưỡi sẽ xưng Ngài là Chúa khi nghe thấy tiếng vang dội ấy. Đây cũng chính là tiếng đã phán với thế gian nầy để nó được tồn tại. Đây chính là tiếng đã công bố công tác cứu chuộc đã được trọn, Giăng 19:30. Đây cũng chính là tiếng sẽ vời Cô Dâu lên trong sự vinh hiển, I Têsalônica 4:16-17. Tiếng nầy rất nghiệt ngã nhất sẽ rơi vào hai lỗ tai của kẻ bị hư mất, Mathiơ 7:23. Nhưng, tiếng ấy sẽ là tiếng quí báu nhất mà những ai được cứu bởi ân điển sẽ nghe thấy, Mathiơ 25:23.
Tôi rất vui sướng khi nghe được tiếng ấy kêu gọi tôi đến với Ngài một ngày kia. Tôi rất vui sướng khi tôi nghe tiếng ấy từng ngay một khi tôi đang trên đường hướng tới sự vinh hiển. Tôi rất biết ơn vì tôi sẽ nghe tiếng ấy ở cuối con đường khi Ngài phán: “Mừng ngươi về đến quê hương!”6. Hai bàn tay của Ngài (câu 16a) – Trong bàn tay phải của Ngài, là bàn tay nói tới quyền lực, Chúa Jêsus đang cầm lấy 7 ngôi sao. Các ngôi sao nầy được xác định ở câu 20. Chúng là các “thiên sứ của 7 Hội Thánh”. Có người tin mấy ngôi sao nầy có ý nói tới một thiên sứ canh gát được ban cho quyền hành trên từng Hội Thánh. Nhiều người khác cảm thấy rằng mấy ngôi sao có ý nói tới quí Mục sư của các Hội Thánh nầy. Riêng tôi thì nghiêng hẳn về sự giải thích sau.
Chúa Jêsus được phác họa là đang cầm lấy các tôi tớ Ngài trong tay Ngài, bảo hộ họ bởi quyền phép của Ngài. Giăng đang viết cho hạng người đã gánh chịu sự bắt bớ nghiệt ngã. Họ cần sự tái bảo đảm nầy khi họ phấn đấu. Nhưng, cũng thế cho bạn và tôi! Thật là yên ủi cho tấm lòng của tôi khi biết rằng mình được an ninh ở trong tay Ngài, Giăng 10:28-29! Hai bàn tay ấy đã nắn đúc ra con người từ bụi đất; đã rờ đến người phung; đã mở mắt kẻ mù; đã cho đoàn dân đông ăn và chắc chắn đã bị đóng đinh trên thập tự giá chính là hai bàn tay đang nắm giữ bạn và tôi ngày nay! Khi bạn ở trong tay Ngài, bạn đang ở trong một nơi thật an ninh tuyệt đối và trọn vẹn!
7. Miệng của Ngài (câu 16b) – Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “thanh gươm hai lưỡi” thò ra từ miệng của Đấng Christ vinh hiển. Điều nầy nhắc cho chúng ta nhớ rằng Ngài không đến với lời lẽ bình an và phước hạnh đâu; mà với lời lẽ công bình và xét đoán. Khi Chúa Jêsus đến lần đầu tiên, Ngài đã đến với một sứ điệp thật bình an và cứu rỗi. Lần tới Ngài đến, Ngài sẽ xét đoán thế gian với một lời ra từ miệng Ngài. Giống như cái đâm của thanh gươm nhọn có thể xoáy tận xương cốt và đem lại sự chết tức thì; một ngày kia Chúa Jêsus sẽ phán và kẻ thù Ngài sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, Khải huyền 19:15. Giống như Ngài đã phán: “Phải có sự sáng” thì có sự sáng; Ngài phán thì việc liền có!
Lời của Đức Chúa Trời, bị rủa sả bởi kẻ vô thần, bởi kẻ theo thuyết bất khả tri, bởi kẻ không tin đạo, và bởi kẻ theo phái ý chí tự do, một ngày kia sẽ là tiêu chuẩn bởi đó mọi người sẽ bị phán xét! Lời của Đức Chúa Trời sẽ xét đoán con người một ngày kia, Khải huyền 20:12; Giăng 12:48.
8. Mặt của Ngài (câu 16c) – Giăng nói rằng mặt của Chúa vinh hiển trông giống như mặt trời khi soi sáng hết sức. Giăng đã nhìn thấy gương mặt nầy trước đây rồi. Khi Chúa Jêsus hóa hình trong Mathiơ 17, Giăng có mặt ở đó mà. Khi Chúa Jêsus đến với trần gian nầy và sống tại thành Bếtlêhem, Ngài đã che giấu sự vinh hiển của Ngài bên dưới chiếc áo xác thịt con người. Khi Ngài đến lần thứ nhứt, người ta có thể tiếp cận Ngài. Bất cứ ai muốn bước vào sự hiện diện của Ngài khi ấy, và nhiều người đã làm được. Những đứa trẻ nhỏ, vị quan giàu có, các cấp lãnh đạo tôn giáo, người nghèo, kẻ đau bịnh, thậm chí kẻ bị xã hội ruồng bỏ như người phung, đều có thể tiếp cận Chúa Jêsus bất cứ khi nào họ muốn. Nhưng, khi Ngài lại đến, hạng người tội lỗi thậm chí sẽ không được nhìn đến Ngài, nói chi đến tiếp cận Ngài.
Khi Chúa Jêsus đến lần thứ nhứt, mặt Ngài là gương mặt của một con người bình thường, Êsai 53:2. Kẻ thù Ngài đã rứt bánh ra khỏi mặt Ngài và chúng khạc nhổ vào gương mặt ấy, Êsai 50:6. Mặt Ngài bị đánh đập và dọc ngang đầy máu của chính Ngài. Thế nhưng, chính gương mặt ấy đã khiến cho Êsai phải kêu lên mà nói: “Khốn nạn cho tôi!”, Êsai 6:5. Chính gương mặt ấy đã khiến cho Gióp phải nói: “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài: Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, và ăn năn trong tro bụi” Gióp 42:5-6. Một ngày kia, hạng người gian ác sẽ kêu lên vì núi non sẽ úp đổ trên họ mà giấu họ khỏi mặt Ngài, Khải huyền 6:16.
Một ngày kia, chúng ta sẽ nhìn thấy gương mặt ấy! Khi chúng ta nhìn thấy, sẽ chẳng có một vết thâm tím, chẳng có máu chảy dọc ngang ở đó nữa. Khi chúng ta nhìn thấy gương mặt ấy, chúng ta sẽ thấy Ngài trong sự vinh hiển của Ngài và chúng ta sẽ có quyền nhìn ngắm sự vinh hiển của Ngài, vì chúng ta sẽ giống như Ngài trong ngày đó, I Giăng 3:2.
I. Chúa vinh hiển trong vẻ oai nghi của Ngài II. CHÚA VINH HIỂN TRONG ƠN THƯƠNG XÓT CỦA NGÀI (câu 17a)A. Phản ứng của Giăng – Giăng đang làm cái việc mà bất kỳ tội nhân nào cũng sẽ làm trong sự hiện diện của Chúa: ông ngã xuống đất như chết! Hạng người bị hư mất hay khoe khang và cung bàn tay họ lại trước mặt Đức Chúa Trời; nhưng ngày hầu đến khi từng kẻ ghét bỏ Đức Chúa Trời và chối bỏ Đấng Christ sẽ quì gối của họ (nam hay nữ) xuống trong sự hiện diện của Đức Chúa Jêsus Christ. Giăng chỉ tỏ ra cho chúng ta thấy những gì mà hết thảy tội nhân sẽ làm một ngày kia. Bây giờ có thể bạn chưa hiểu hết được điều nầy đâu, nhưng có một ngày hầu đến khi địa ngục sẽ trở thành nơi tiếp đón dành cho hạng tội nhân hư mất, họ phải đứng trước mặt Chúa Jêsus trong sự phán xét một ngày kia, Minh họa: Philíp 2:9-11; Khải huyền 20:11-15.Đồng thời, tôi rất vui sướng khi tôi đã quì gối xuống rồi trước mặt Ngài và công nhận Ngài là Chúa, là Đức Chúa Trời và là Vua! Tôi rất biết ơn khi mỗi ngày tôi, chẳng có lưỡng lự chi hết, quì gối trước mặt Ngài và xưng Ngài là Chúa của tôi. Còn bạn thì sao?
B. Sự tái bảo đảm của Đấng Christ – Khi Giăng ngã xuống như chết, Chúa Jêsus làm việc mà Ngài luôn luôn làm: Ngài phán bình an cho con cái Ngài! Hãy suy nghĩ về điều nầy xem! Chúa Jêsus sử dụng bàn tay hữu của Ngài, là bàn tay với nó Ngài bảo hộ các tôi tớ Ngài. Ngài sử dụng bàn tay ấy và dịu dàng chạm đến Giăng. Thế rồi Ngài phán cùng Giăng. Chính tiếng nói ấy sấm sét với quyền bính và oai lực; chính tiếng nói ấy một ngày kia sẽ phán xét các nước; chính tiếng nói ấy phán bình an cho tấm lòng của Giăng! Đây chẳng phải là lần đầu tiên Giăng đã nghe Ngài phán “Bình an!” Giăng đã nghe Ngài phán: “Hãy êm đi, lặng đi”, Mác 4:39, và cả vùng biển thịnh nộ nằm xuống dưới chơn Ngài giống như một con búp bê vậy. Sự bình an đó xua tan đi nổi lo sợ mà các môn đồ đã cảm nhận trong đêm ấy. Ông đã nghe Ngài phán: “Bình an cho các ngươi”, Giăng 20:19, vào cái ngày mà Ngài đã sống lại từ kẻ chết. Sự bình an ấy xua tan đi hết mọi nghi ngờ và sợ hãi mà các môn đồ đã có sau cái chết của Ngài. Bây giờ, Giăng đang nghe Ngài phán “bình an” một lần nữa. Lần nầy từ ngữ bình an khiến cho Giăng nhìn biết rằng ông chẳng có gì phải lo sợ đối với Chúa Jêsus cả. Chúa Jêsus không đến như Quan Xét đối với Giăng; mà là Đấng Cứu Chuộc và là Bạn hữu của ông! Halêlugia, đúng là Cứu Chúa!
Chúa Jêsus có thể là Vua các vua; song Ngài là Thiết Hữu của chúng ta! Có thể Ngài là Chủ Tể Tối Cao của vũ trụ; song Ngài là người Anh Cả của chúng ta! Có thể Ngài là Đức Chúa Trời, là Đấng hành động trong năng quyền và vinh quang, hoàn thành nhiều việc mà suy tưởng của chúng ta không sao hiểu tới nổi; song Ngài vẫn có thì giờ để cho các nhu cần của chúng ta chạm đến, Hêbơrơ 4:15, và Ngài vẫn đưa bàn tay của Ngài xòe ra trong đời sống của chúng ta để khích lệ chúng ta và để phán bình an cho tấm lòng chúng ta.
I. Chúa vinh hiển trong vẻ oai nghi của Ngài
II. Chúa vinh hiển trong ơn thương xót của Ngài
III. CHÚA VINH HIỂN TRONG CHỨC VỤ CỦA NGÀI (các câu 17b-18)(Minh họa: Tiểu đoạn sau cùng phác họa Chúa Jêsus trong công tác của Ngài. Mấy câu nầy cho chúng ta biết Ngài là ai và Ngài đang làm gì).A. Ngài là Đấng đang tể trị – Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng – Giăng được nhắc nhớ rằng Chúa Jêsus là Đấng “Tác Giả và Thành Toàn” của muôn vật. Ngài là Đấng luôn luôn hiện hữu và là Đấng luôn hằng hữu. Chúa Jêsus đứng như Đầu và là Cuối của lịch sử. Các bậc vua chúa sẽ đến rồi đi, còn Chúa Jêsus đã, đang và sẽ trị vì cho đến đời đời. Ngài là vô hạn và Ngài là đời đời!
B. Ngài là Đấng Phục Sinh – là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, Amen; - Chúa Jêsus đã làm một việc mà chẳng có ai khác làm được: Ngài đã bước vào sự chết theo thời khắc của chính Ngài, theo phương thức của chính Ngài và Ngài đã bước ra khỏi sự chết khi Ngài đã sẵn sàng. Ngài đã chịu chết trên thập tự giá và rồi Ngài đã sống lại từ kẻ chết, Mathiơ 28:1-6. Cảm tạ Đức Chúa Trời: “Ngài sống! Ngài sống! Chúa Jêsus sống hiện rày! Đi chung trò chuyện suốt lối hẹp hòi. Tâm tôi vui mừng thơ thái! Ngài sống! Ngài sống! Để ban ơn cứu ta đấy. Nếu hỏi chứng cứ Chúa sống đâu nào? Rằng Chúa sống trong lòng nầy!”C. Ngài là Đấng Cứu Chuộc – “là Đấng Sống, ta đã chết” – Chúa Jêsus đã chết, nhưng cái chết của Ngài chẳng giống với cái chết nào khác trong lịch sử của thế giới. Ngài đã chết, không phải vì Ngài, mà Ngài đã chịu chết cho nhiều người khác. Ngài bước lên thập tự giá đó để trả cái giá mà Ngài không mắc; vì một dân mắc một giá mà họ không thể trả được. Ngài đã phó mọi sự của Ngài cho những kẻ chẳng có gì để dâng lên. Ngài đã trả toàn bộ cái giá để chuộc lấy dân sự Ngài ra khỏi tội lỗi của họ, Êsai 53:4-6; I Phierơ 1:18-19; Khải huyền 1:5. Ngài đã hoàn thành một của lễ mà hàng triệu gallons máu con sinh đã không bao giờ có thể, cũng sẽ không bao giờ có thể đủ trọn được. Ngài đã trả cái giả đủ cứu chuộc cho những ai sẽ kêu cầu Ngài bởi đức tin, Hêbơrơ 10:10-14; Hêbơrơ 9:12; 25-28.
D. Ngài là Đấng y như nguyên cũ – kìa nay ta sống đời đời – Khi từng bậc chủ quyền và từng kẻ bị trị nhạt nhòa dần đi qua cái khung thời đại; khi từng người giàu có và mỗi người nghèo khó bị xóa đi khỏi ký ức của thời gian; khi từng đế quốc và từng việc làm phai dần đi bởi dòng lịch sử; Đức Chúa Jêsus Christ vẫn sẽ là Chúa Tể và Ngài vẫn sẽ là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng y như nguyên cũ! Đừng lo về việc gì sẽ xảy ra cho Ngài! Khi bụi thời gian bị quét vào cái thùng rác của cõi đời đời, Chúa Jêsus vẫn sẽ là Vua các vua và Chúa các chúa! Điều đó đã đem lại sự yên ủi cho từng con cái của Đức Chúa Trời và giáng sự kinh khiếp vào lòng của từng ma quỉ và tội nhân.
E. Ngài là Đấng giải phóng – Ta cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ – Chìa khóa nói tới lối vào và quyền hành. Tôi có nhiều chìa khóa ngay ở đây. Vì tôi có chúng, tôi có lối vào với những vật kia. Vì tôi có mấy chiếc chìa khóa, tôi có thể vào những nơi mà người khác không được phép vào. Cũng thực sự một thể ấy với Chúa Jêsus!
Đức Chúa Jêsus Christ quyết định mọi vấn đề của sự sống và sự chết. Ngài quyết định ai sống và ai chết. Vì Chúa Jêsus đã bước vào sự chết và đã thắng hơn nó, Ngài có những chìa khóa của sự chết. Vì Ngài đã bước vào chỗ mà người chết đang ở và đã bước ra khỏi đó, Ngài đang cầm lấy chìa khóa của địa ngục. Chúa Jêsus là nhân vật chính! Ngài là một người nhơn đức để người ta phải nhìn biết! Vì tôi nhìn biết Ngài, tôi không thể đi địa ngục, Ngài đã khóa cánh cửa ấy rồi! Vì tôi nhìn biết Ngài, tôi sẽ vào thiên đàng; Ngài đã mở toang hai cánh cổng của thành ấy cho con cái của Ngài.
Có phải bạn biết rõ Ngài đang cầm lấy những chiếc chìa khóa và từng mồ mả trong thế gian không? Ngài có quyền làm cho những người thân của bạn sống lại từ kẻ chết, I Têsalônica 4:13-18. Có phải bạn nhìn biết rằng Ngài đã mở cánh cửa giữa sự sống và sự chết cho hết thảy dân sự Ngài không? Khi tôi đi đến mức cuối của sự sống, tôi sẽ có quyền bước ra khỏi sự sống đời nầy mà bước vào trong sự sống thiên thượng đó vì Ngài đã mở cánh cửa ra rồi.
Phần kết luận: Một người cha đang cố gắng đọc tờ báo ngày Chúa nhựt. Đứa con gái nhỏ của ông ta, như mấy đứa trẻ nhỏ thường làm, thường xuyên ngắt ngang ông rồi đưa ra mấy câu hỏi với ông. Sau cùng, không muốn nó quấy rối nữa, ông cắt tấm bản đồ thế giới, trao cho nó, và bảo nó ghép lại với nhau. Ông nghĩ điều nầy sẽ làm cho nó không làm rộn ít nhất cũng là một thời gian nào đó. Tuy nhiên, chỉ trong mấy phút nó quay trở lại với tấm bản đồ và từng mảnh kia được ráp vào đúng chỗ.
Người cha lấy làm kinh ngạc lắm rồi nói: “Làm sao mà con ráp nối mấy mảnh ấy nhanh thế? Con đâu có biết gì về địa lý, có phải không”. Đứa bé gái kia đáp: “Dạ phải, bố ơi, có một bức tranh về Chúa Jêsus ở mặt kia kìa, và con biết con ráp khuôn mặt ấy cho đúng chỗ, thì cả thế giới cũng sẽ y khuôn mà”.Đúng là một sự thực! Đấy là điều mà Giăng đang ra sức làm ở đây, ngay mỗi chặng đường của sách Khải huyền. Ông đang cố gắng buộc chúng ta phải nhìn xem Chúa Jêsus y như Ngài vốn có thật vậy! Ngài không phải là con người khiêm hạ xứ Galilê nữa. Ngài là Vua các vua và Chúa các chúa và Ngài đáng được thờ lạy, đáng được phục sự và đáng được vinh hiển. Khi Ngài đang ngự ở đúng chỗ, toàn bộ thế gian cũng sẽ được an bài. Cho tới khi ấy, thế gian sẽ mất cân đối và sẽ tiếp tục chao đảo dưới những tác dụng của tội lỗi và sự loạn nghịch, cho tới chừng Chúa Jêsus ngự đến và sắp đặt lại mọi việc.
Có việc gì ở đây dành cho bạn không? Có việc nầy đây: Có phải Chúa Jêsus ngự vào đúng vị trí trong tấm lòng và đời sống của bạn không? Nếu Ngài đang ở đó, thế thì bạn đã được cứu và bạn đang hạ mình phục sự Ngài. Nếu Ngài chưa có ở đó, như vậy có nghĩa là đời sống của bạn đang mất cân đối và giống như cái ruột xe không có hơi và đang hướng tới sự hủy diệt.
Bạn và tôi đều có cơ hội để đến trước mặt Ngài hôm nay để ngợi khen Ngài vì Ngài là ai. Chúng ta có cơ hội sấp mình xuống trước mặt Ngài; để cảm tạ Ngài và tôn vinh Ngài. Hôm nay, chúng ta có thể làm điều ấy một cách tự nguyện, vì nhiều người rồi đây sẽ bị buộc phải sấp mình xuống đấy.